Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Càn Khôn vạn niên ca

乾坤万年歌
Càn Khôn vạn niên ca
(tàng bản của Hoàng cung nhà Thanh)

1.太極未判昏已過。 1 Thái Cực vị phán hôn dĩ quá.
2.風後女媧石上坐。 2 Phong Hậu, Nữ Oa thạch thượng tọa.
Tạm dịch và chú thích:
Thái cực chưa phân chia, buổi chiều tối đã qua.
Phong Hậu, Nữ Oa ngồi trên đá.

3.三皇五帝己派相。 3 Tam Hoàng, Ngũ Đế kỷ phái tương.
4.承宗流源應不錯。 4 thừa Tông lưu nguyên ứng bất thác.
Tạm dịch và chú thích:
Tam Hoàng, Ngũ Đế, các vị vua nối nhau.
kế thừa tông tổ, nguồn chảy không gì sai.

5.而今天下一統周。 5 nhi kim thiên hạ nhất thống Chu.
6.禮樂文章八百秋。 6 lễ nhạc văn chương bát bách Thu.
Tạm dịch và chú thích:
Mà nay là đời nhà Chu.
Duy trì được 800 năm
(nhà Chu gồm Tây Chu và Đông Chu, từ 1132 tr.CN đến 256 tr.CN, được 876 năm, nói tròn là 800 năm.)

7.串去中直傳天下。 7 Quán khứ trung trực truyền thiên hạ.
8.卻是春禾換日頭。 8 khước thị Xuân Hòa hoán Nhật đầu.
9.天下由來不固久。 9 thiên hạ do lai bất cố cửu.
10.二十年不能守。 10 nhị thập niên gian bất năng thủ
Tạm dịch và chú thích:
Thói quen của người ta bỏ điều ngay thẳng, nó lan truyền trong đời.
Nó là lúa xuân thay đổi mặt trời trên đầu.
Thiên hạ do vậy chẳng vững bền.
Khoảng hai mươi năm là không giữ được.
(chữ Quán mà bỏ đi nét sổ thẳng ở giữa là chữ Lã , đây là nói họ Lã được thiên hạ. Có thuyết nói Tần Thủy Hoàng là con Lã Bất Vi.
Chữ Xuân mà bỏ chữ  Nhật , thay vào bằng chữ Hòa , là chữ Tần , đây là chỉ nhà Tần.
Tần Thủy Hoàng 12 năm, Nhị Đế 3 năm, Tử Anh 46 ngày, gộp là 15 năm 46 ngày, nói làm tròn là 20 năm. 221-207 tr.CN)

11.卯坐金頭帶直刀。 11 Mão tọa Kim đầu đới trực Đao.
12.削儘天下木羊首。 12 tước tẫn thiên hạ Mộc Dương thủ.
Tạm dịch và chú thích:
Mão ngồi trên vàng đeo đao thẳng.
Gọt hết thiên hạ đầu con dê gỗ.
(chữ Mão  ở trên chữ Kim , bên cạnh có chữ Đao đứng , là chữ Lưu , đây là chỉ Lưu Bang.
Dương là Dê phiếm chỉ năm Mùi, Mộc là chỉ can Ất , Hán Cao Tổ được phong Vương năm Ất Mùi 206 tr.CN)

13.一土臨朝更不祥。 13 Nhất Thổ lâm triều cánh bất tường.
14.改年換國篡平床。 14 cải niên hoán quốc soán Bình sàng.
Tạm dịch và chú thích:
Một đất vào trong triều đình là điều chẳng lành.
Thay niên hiệu, đổi tên nước, cướp ngôi vua ở cái giường bằng.
(chữ Nhất ở trên chữ Thổ là chữ Vương , chỉ Vương Mãng.
Bình là Bình Vương, Sàng  là giường, Bình Vương bị ép uống rượu độc khi đang ở trên giường.)

15.泉中湧出光華主 15 Tuyền trung dũng xuất Quang hoa chủ.
16.興復江山又久長 16 hưng phục giang sơn hựu cửu trường.
Tạm dịch và chú thích:
Suối nước vọt ra chúa rạng ngời.
Phục hồi lại non sông được lâu dài.
(chữ Tuyền 泉 , ở trên là chữ Bạch 白 , ở dưới là chữ Thủy 水 , chỉ huyện Bạch Thủy, Chữ Quang  chỉ vua Quang Vũ, vua Quang Vũ dấy binh từ huyện Bạch Thủy.)

17.四百年來更世界。 17 tứ bách niên lai canh thế giới.
18.日上一曲懷毒害。 18 Nhật thượng Nhất Khúc hoài độc hại.
Tạm dịch và chú thích:
400 năm tiếp theo có sự thay đổi.
Mặt trời lên một đoạn ôm giữ điều độc hại.
(Tây Hán 214 năm, Đông Hán 196 năm, gộp lại là 410 năm, tính tròn là 400 năm.
(chữ Nhất , chữ Khúc , chữ Nhật , chồng lên nhau là chữ Tào , chỉ Tào Tháo.)

19.一枝流落去西川。 19 nhất chi lưu lạc khứ Tây Xuyên.
20.三分社稷傳兩代。 20 Tam Phân xã tắc truyền lưỡng đại.
Tạm dịch và chú thích:
Một nhánh trôi dạt đến Tây Xuyên
Chia ba đất nước, truyền được 2 đời.
(Lưu Bị là tông thất nhà Hán, sau xưng đế ở Tây Thục, dược 1 phần ba thiên hạ. Chiêu Liệt truyền đến Hậu Chủ được 2 đời.

21.四十年來又一變。 21 tứ thập niên lai hựu nhất biến.
22.相傳馬上同無半。 22 tương truyền Mã thượng Đồng vô bán.
Tạm dịch và chú thích:
40 năm tới lại một lần thay đổi
Đồn rằng trên ngựa khi không có một nửa.
(Chiêu Liệt và Hậu Chủ cộng được 43 năm, lấy tròn là 40. Chữ Đồng  không có một nửa là chữ Tư      đây là chỉ họ Tư Mã )
            
23.兩頭點火上長安。 23 lưỡng đầu điểm Hỏa thượng Trường An.
24.委鬼山河通一占。 24 Ủy Quỷ sơn hà thông nhất chiếm.
25.山河既屬普無頭。 25 sơn hà ký thuộc Phổ vô đầu.
26.離亂中分數十秋。 26 ly loạn trung phân số thập Thu.
Tạm dịch và chú thích:
Hai đầu châm lửa lên Trường An
Giao cho con quỷ chiếm cứ cả non sông
Non sông đã thuộc về, khắp cả đều không có đầu
Loạn lạc chia lìa trong vài chục mùa thu
(hai đầu có chữ Hỏa là chữ Viêm , chữ Ủy với chữ Quỷ là chữ Ngụy , chữ Phổ không có đầu là chữ Tấn . Chỉ Tư Mã Viêm soán đoạt nhà Ngụy lập lên nhà Tấn. Tây Tấn ly loạn 52 năm, 18 nước, Đông Tấn.)

27.子中一朱不能保。 27 tử trung nhất Chu bất năng bảo.
28.江東復立作皇洲。 28 Giang Đông phục lập tác Hoàng Châu.
Tạm dịch và chú thích:
Trong đám con cái, một chút đẹp đẽ cũng chẳng giữ được
Tái lập kinh đô ở Giang Đông
(Thái Tử Huệ Đế, con giữa Hoài Đế, cháu là Mẫn Đế đều bị giết, họ Tư Mã tuyệt tự. Chữ Chu bỏ đi chữ Bát là chữ Ngưu , chỉ việc Đông Tấn Nguyên Đế, mẹ là Hạ Hầu, thông dâm với một viên tiểu lại là Ngưu Kim mà sinh ra.)

29.相傳一百五十載。 29 tương truyền nhất bách ngũ thập tải.
30.釗到兔兒平四海 30 Chiêu đáo Thố nhi bình tứ hải.
Tạm dịch và chú thích:
Đồn rằng được 150 năm
Đẽo gọt đến con thỏ, bình định khắp chốn.
(Tây Tấn 52 năm, Đông Tấn 103 năm, cộng 155 năm, nói tròn số là 150. Chữ Thố tức là chữ Mão , tàu gọi năm Mão là con Thỏ. Chữ Chiêu  có chữ Mão ở trên là chữ Lưu , chỉ tiếp theo nhà Tấn là Tống Vũ Đế Lưu Dụ.)

31.天命當頭六十年。 31 Thiên Mệnh đương đầu lục thập niên.
32.肅頭蓋草生好歹。 32 Túc đầu cái Thảo sinh hiếu đãi.
Tạm dịch và chú thích:
Đương đầu theo Mệnh Trời được 60 năm
Cái đầu ngay ngắn lợp cỏ nảy ra thích việc xấu xa.
(nhà Tống họ Lưu là triều đại đầu của thời Tiền Ngũ Đại, nên nói Thiên Mệnh đương đầu, được 8 đời, trải qua 60 năm thì mất. Tiếp theo là Nam Tề, Cao Đế là Tiêu Đạo Thành. Chữ Túc có Thảo đầu là chữ Tiêu .)

33.都無真主管江山。 33 đô vô chân chủ quản giang sơn.
34.一百年前擾幾番。 34 nhất bách niên tiền nhiễu kỷ phiên.
35.耳東入國人離亂。 35 Nhĩ Đông nhập quốc nhân ly loạn.
36.南隔長安北隔關。 36 Nam cách Trường An, Bắc cách Quan.
Tạm dịch và chú thích:
Đều không phải là vua chân chính làm chủ non sông
100 năm trước mắt rối ren biết bao lần
Phía đông cái tai vào trong nước, người chịu chia lìa loạn lạc
Phía nam cách Trường An, bắc cách quan ải.
(sau nhà Hán, Trung Quốc đến thời kỳ đại loạn, ở đây là nói thời Tiền Ngũ Đại. Tiếp theo Tống là Nam Tể 5 đời vua được 23 năm, Nam Lương 4 đời vua được 55 năm, Nam Trần được 5 đời vua được 33 năm, gộp lại là 111 năm, gọi tròn là 100 năm. Chữ Đông  mà có Tai, hiểu với nghĩa có cái ở bên cạnh thêm vào, phụ nhĩ, là chữ Trần , đây là chỉ Nam Trần Trần Bá Tiên.)

37.水龍木易承天命。 37 Thủy Long Mộc Dịch thừa Thiên Mệnh.
38.方得江山歸一定。 38 phương đắc giang sơnn quy nhất định.
39.五六年來又不祥。 39 ngũ lục niên lai hựu bất tường.
40.此時天下又紛爭。 40 thử thời thiên hạ hựu phân tranh.
Tạm dịch và chú thích:
Rồng nước cây dời, theo mệnh Trời
Non sông được theo về một mối
Năm sáu năm tới lại chẳng lành
Lúc bấy giờ thiên hạ lại tranh giành, rối loạn.
(Nghiêm Quang cho rằng chữ Thủy chỉ can Nhâm, chữ Long chỉ năm Thìn, tức là năm, tháng, ngày hoặc giờ Nhâm Thìn tức là năm 572, nhưng chưa tìm được sự kiện phù hợp. Có ý kiến cho rằng Thủy là Nhâm, Long là Thương Long hoặc Thanh Long, chỉ phương Đông. Dần Mão Thìn cùng thuộc phương Đông, năm Nhâm Dần tức là năm 582, Trần Tuyên Đế bệnh chết. Chữ Mộc 木 với chữ Dịch 易 là chữ Dương 楊, chỉ Dương Kiên, Nhà Tùy kể từ khi tiêu diệt Nam Triều, đến khi mất vào tay nhà Đường, truyền được 3 đời, 29 năm, gọi tròn là 5*6=30 năm.)

41.木下男兒火年起。 41 Mộc hạ Nam Nhi Hỏa niên khởi.
42.一掃煙塵木易已。 42 nhất tảo yên trần Mộc Dịch dĩ.
Tạm dịch và chú thích:
Con trai ở dưới cây, dấy lên vào năm hỏa
Quét sạch khói bụi, cây dời xong.
Nam nhi=con trai tức là chữ Tử , hợp với chữ Mộc   thành chữ Lý , chỉ Lý Uyên. Hỏa là can Đinh , Lý Uyên khởi binh năm Đinh Sửu-617. Họ Dương kết thúc.)

43.高祖世界百餘年。 43 Cao Tổ thế giới bách dư niên.
44.雖見干戈不傷體 44 tuy kiến can qua bất thương thể.
45.子繼孫承三百春。 45 tử kế tôn thừa tam bách Xuân.
46.又遭離亂似瓜分。 46 hựu tao ly loạn tự qua phân.
Tạm dịch và chú thích:
Thế giới của Cao Tổ hơn 100 năm
Tuy rằng có loạn lạc nhưng không bị tổn thương gì.
Con cháu nối nhau được 300 mùa xuân
Lại gặp phải ly loạn, chia năm sẻ bảy.
(Từ Cao Tổ Lý Uyên trong khoảng 100 năm, trải hai cuộc chiến, với Đột Quyết và Cốc Hồn, nhưng chính trị kinh tế vẫn ổn định và phát triển. Nhà Đường 618-907 được 288 năm, gọi tròn là 300 xuân.

47.五十年來二三往。 47 ngũ thập niên lai Nhị Tam vãng.
48.不真不假亂為君。 48 bất chân bất giả loạn vi Quân.
Tạm dịch và chú thích:
Năm mươi năm tới, hai ba qua
Chẳng phải chân cũng chẳng phải giả, rối loạn trong việc làm vua.
(2+3=5 chỉ thời Ngũ Đại, qua 56 năm thì kết thúc, gọi tròn là 50 năm. Thời Ngũ Đại truyền ngôi vua lung tung, nên nói bất chân bất giả, người thì truyền ngôi cho con, người thì truyền ngôi cho con nuôi, người thì truyền ngôi cho cháu của vợ.)

49.金豬此木為皇帝。 49 Kim Trư Thử Mộc vi Hoàng Đế.
50.未經十載遭更易。 50 vị kinh thập tải tao canh dịch.
Tạm dịch và chú thích:
Lợn vàng, cây này làm vua
Chưa hết 10 năm gặp thay đổi.
(Kim chỉ can Tân , Chư chỉ chi Hợi , tức là Tân Hợi. Chữ Thử   hợp với chữ Mộc   là chữ Sài . Hậu Chu Quách Uy lên ngôi năm Tân Hợi-951, truyền ngôi cho cháu vợ là Sài Vinh. Hậu Chu 3 vua được 9 năm.)

51.肖郎走出在金猴 51 Tiêu lang Tẩu xuất tại Kim Hầu.
52.穩穩清平傳幾世。 52 ổn ổn thanh bình truyền kỷ thế.
Tạm dịch và chú thích:
Chàng trai yếu kém chạy ra ở con khỉ vàng
Yên ổn thanh bình truyền mấy đời.
(chữ Tiêu hợp với chữ Tẩu là chữ Triệu chỉ Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn. Kim là can Canh , Hầu là chi Thân , nhà Tống bắt đầu từ Canh Thân-960.)

53.一汴二杭事不巧。 53 nhất Biện nhị Hàng sự bất xảo.
54.卻被胡人通占了 54 khước bị Hồ nhân thông chiếm liễu.
55.三百年來棉木終。 55 tam bách niên lai Miên Mộc chung.
56.三閭海內去潛蹤。 56 tam lư hải nội khứ tiềm tung.
Tạm dịch và chú thích:
Một Biện, một Hàng việc chẳng hay
Rồi bị người Hồ xâm chiếm hết
300 năm tới cây gạo hết
Mất dạng ở vùng biển Tam Lư
(Bắc Tống kinh đô ở Biện Kinh, Nam Tống kinh đô ở Lâm An-Hàng Châu-Chiết Giang. Bị diệt bởi Mông Cổ. Chữ Miên dùng đồng âm tức là chữ Miên , hợp với chữ Mộc là chữ Tống . Nhà Tống 960-1279 được 320 năm, gọi tròn 300. Vua quan, cung tần chạy ra biển bị chết chìm. Tam Lư là nơi Khuất Nguyên làm quan, cũng gọi Khuất Nguyên là Tam Lư đại phu.)


57.一兀為君八十載。 57 Nhất Ngột vi Quân bát thập tải.
58.淮南忽見紅光起。 58 Hoài Nam hốt kiến Hồng Quang khởi.
59.八隻牛來力量大 59 Bát chích Ngưu lai lực lượng đại.
60.日月同行照天下。 60 Nhật Nguyệt đồng hành chiếu thiên hạ.
Tạm dịch và chú thích:
Một cao vọt lên làm vua 80 năm
Hoài Nam chợt thấy ánh sáng màu hồng dấy lên
Tám con trâu đến, lực lượng lớn
Mặt trời mặt trăng cùng đi với nhau soi sáng thiên hạ.
(chữ Nhất và chữ Ngột là chữ Nguyên , nhà Nguyên được 89 năm, gọi tròn là 80. Khởi nghĩa Hồng Cân ở Hoài Nam. Chữ Bát và chữ Ngưu là chữ Chu , chỉ Chu Nguyên Chương, chữ Nhật và chữ Nguyệt là chữ Minh chỉ nhà Minh.)

61.土猴一兀自消除。 61 Thổ Hầu Nhất Ngột tự tiêu trừ.
62.四海衣冠新彩畫。 62 tứ hải y quan tân thái họa.
Tạm dịch và chú thích:
Khỉ đất một mình cao vọt  bị tiêu diệt
Bốn bể trang phục thay đổi đẹp đẽ.
(Thổ là can Mậu, Hầu là chi Thân, nhà Nguyên bị tiêu diệt năm Mậu Thân-1368. Khắp nơi đều thay đổi mang sắc thái mới.)

63.三百年來事不順。 63 tam bách niên lai sự bất thuận.
64.虎頭帶土何須問 64 Hổ đầu đái Thổ hà tu vấn.
Tạm dịch và chú thích:
300 năm tới việc chẳng xuôi
Đầu hổ dính đất, sao phải hỏi.
(nhà Minh 1368-1644 được 277 năm, gọi tròn 300. Hổ là chi Dần  , Thổ là can Mậu, năm Mậu Dần Sùng Trinh 11, hạn hán, nạn châu chấu, tháng 9, quân Thanh theo ba đường kéo xuống, thiên hạ mất mùa, đói rét, loạn lạc.)

65.十八孩兒跳出來 65 Thập Bát Hài Nhi khiêu xuất lai.
66.蒼生方得蘇危 66 thương sinh phương đắc tô nguy khốn.
Tạm dịch và chú thích:
18 đứa trẻ chạy túa ra
Trăm họ được mưa móc trong lúc nguy khốn.
(Hài Nhi là cách nói khác của Tử , hợp với Thập Bát  là chữ Lý , chỉ Lý Tự Thành. Ngày 17-3, Lý Tự Thành vây Bắc Kinh, Sùng Trinh treo cổ tự tử ở Mai Sơn. Tháng 5 quân Thanh lấy được Bắc Kinh, tình hình dần ổn định.)

67.相繼春秋二百餘 67 tương kế xuân thu nhị bách dư.
68.五湖雲擾又風顛。 68 Ngũ Hồ vân nhiễu hựu phong điên.
Tạm dịch và chú thích:
Nối tiếp được hơn 200 năm
Ngũ Hồ mây gió nổi lên ầm ầm
(nhà Thanh 1644-1909 được 266 năm. Ngũ Hồ là phiếm chỉ Trung Quốc, mây gió nổi lên là chỉ các cuộc khởi nghĩa cuối thời Thanh.)
Phía trên, phần lớn là dựa vào chú thích của Hán Nghiêm Quang, một nhân vật được cho là người thời Thanh, mượn danh Nghiêm Tử Lăng đời Hán. Việc này là chưa thể khảo cứu được. Chính văn của bản này lấy ở Di Hòa Viên năm 1860, sao lưu-chụp ảnh-in ấn năm 1867. Tất Hán Nghiêm Quang phải sống trước thời đó. Đoạn sau chờ lịch sử chứng thực chứ không bị chú tiếp.

69.人丁口取江南地。 69 Nhân Đinh Khẩu thủ Giang Nam địa.
70.京國重新又一遷。 70 kinh quốc trùng tân hựu nhất thiên.
Tạm dịch và chú thích:
Đàn ông lấy cửa ngõ ở đất Giang Nam
Kinh đô lại đổi mới, lại dời đi một lần nữa.
(có ý kiến cho rằng chữ Đinh và chữ Khẩu là chữ Thạch , chỉ Tưởng Giới Thạch, Trung Hoa Dân Quốc định đô ở Nam Kinh, tức là Giang Nam. Sau đó lại thay đổi lần nữa, Bắc Kinh và Đài Bắc.)

71.兩分疆界各保守。 71 lưỡng phân cương giới các bảo thủ.
72.更得相安一百九。 72 canh đắc tương an nhất bách cửu.
Tạm dịch và chú thích:
Chia đôi cương giới, chỗ nào giữ chỗ đó
Duy trì như thế Một, Trăm, Chín.
(có ý kiến cho rằng đây là sự xuất hiện Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc, việc eo biển Đài Loan. Một Trăm Chín, là 109 hay 100-9=91? Thời điểm kể từ 1909, 1912, 1928 hay 1949?)

73.那時走出草田來 73 na thời tẩu xuất Thảo Điền lai.
74.手執金龍步玉堦。 74 thủ chấp Kim Long bộ Ngọc giai.
75.清平海內中華定。 75 thanh bình hải nội trung hoa định.
76.南北同歸一統排。 76 nam bắc đồng quy nhất thống bài.
Tạm dịch và chú thích:
Khi nào chạy ra, cỏ ruộng tới
Tay cầm rồng vàng, bước lên thềm ngọc
Trong nước thanh bình, Trung Hoa mới đứng vững
Nam Bắc cùng về một mối.
(có ý kiến cho rằng chữ Thảo và chữ Điền là chữ Miêu )

77.誰知不許乾坤久。 77 thùy tri bất hứa Càn Khôn cửu.
78.一百年來天上口。 78 nhất bách niên lai Thiên thượng Khẩu.
79.木邊一兔走將來。 79 Mộc biên nhất Thố tẩu tương lai.
80.自在為君不動手。 80 tự tại vi quân bất động thủ.
Tạm dịch và chú thích:
Ai hay trời đất chẳng lâu dài
100 năm tới trên Trời có mồm
Bên cây một con thỏ chạy tới phía trước
Hẳn được làm vua (nên) không cần ra tay.
(có ý kiến cho rằng, chữ Thiên có chữ Khẩu ở trên là chữ Ngô . Chữ Thố là Mão , hoặc Mộc cạnh Mão, là Liễu , hoặc Mộc chỉ can Ất  tức là Ất Mão.)

81.又為棉木定山河。 81 hựu vi Miên Mộc định sơn hà.
82.四海無波二百九。 82 tứ hải vô ba nhị bách cửu.
Tạm dịch và chú thích:
Lại làm cây gạo định được non sông
Bốn bể không sóng được hai trăm chín.
(ở đây lại có chữ Miên Mộc, không hiểu có giống phần trước chỉ chữ Tống không?)

83.王上有人雞上火。 83 Vương thượng hữu Nhân Kê thượng Hỏa.
84.一番更變不須說 84 nhất phiên canh biến bất tu thuyết.
85.此時建國又一人。 85 thử thời kiến quốc hựu Nhất Nhân.
86.君正臣賢垂黼黻。 86 quân chính thần hiền thùy phủ phất.
87.平定四海息干戈 87 bình định tứ hải tức can qua.
88.二百年來為社稷。 88 nhị bách niên lai vi xã tắc.
Tạm dịch và chú thích:
Trên vua có người, trên gà có lửa
Lại một lần thay đổi, chẳng nên nói
Bấy giờ dựng nước lại có một người
Vua ngay quan giỏi, rủ áo đẹp.
Dẹp yên bốn bể, dừng chiến tranh
200 năm tới làm xã tắc.
(có ý kiến cho rằng, chữ Vương ở trên có chữ Nhân là chữ Toàn . Hỏa là can Đinh là chi Dậu chỉ Đinh Dậu. Chữ Hựu  và chữ Nhất là chữ Văn , hoặc Nhất với Nhân là chữ Đại . 黼黻 Phủ Phất là quần áo thêu thùa đẹp đẽ, như Tả Truyện có chép 左傳.桓公二年:火龍黼黻,昭其文也.  Cũng còn dùng để tỷ dụ về văn chương bóng bảy như Bắc Tề thư-Văn uyển truyện chép 北齊書.卷四十五.文苑傳.序:摛黼黻於生知,問珪璋於先覺.)  

89.二百五十年中好。 89 nhị bách ngũ thập niên trung hảo.
90.江南走出釗頭卯 90 Giang Nam tẩu xuất Chiêu đầu Mão.
91.大好山河又二分。 91 đại hảo sơn hà hựu nhị phân.
92.幸不全亡莫嫌小。 92 hạnh bất toàn vong mạc hiềm tiểu.
Tạm dịch và chú thích:
Trong 250 năm tốt đẹp
Giang Nam chạy ra gọt đầu Mão
Non sông rất tốt đẹp lại chia đôi
May không mất hết, chớ e là còn lại nhỏ.
(chữ Chiêu đầu Mão, lặp lại như phần trước, chưa rõ là có cùng ý chỉ chữ Lưu không.)

93.兩人相見百忙中。 93 Lưỡng Nhân tương kiến Bách mang trung.
94.治世能人一ㄙ弓。 94 trị thế năng nhân nhất Khư Cung.
95.江南江北各平定。 95 Giang Nam Giang Bắc các bình định.
96.一統山河四海同。 96 nhất thống sơn hà tứ hải đồng.
Tạm dịch và chú thích:
Hai người nhìn nhau, trăm thứ bận bịu ở trong
Người có khả năng trị thế một cái cung
Nam sông Trường Giang, Bắc sông Trường Giang đều bình định
Nhất thống non sông, bốn bể cùng một mối.
(có ý kiến cho rằng, hai chữ Nhân nhìn nhau là chữ Tùng   phồn thể là . Chữ Khư và chữ Cunglà chữ Hoằng .)

97.二百年來為正主。 97 nhị bách niên lai vi chính chủ.
98.一渡顛危猴上水。 98 nhất độ điên nguy Hầu thượng Thủy.
99.别枝花開果兒紅 99 biệt chi hoa khai quả nhi Hồng.
100.復取江山如舊許。 100 phục thủ giang sơn như cựu hứa.
Tạm dịch và chú thích:
Hai trăm năm tới làm chính chủ
Một lần nghiêng đổ, con khỉ trên nước
Một cành riêng nở hoa, quả màu hồng
Thu lại non sông như đã hẹn.
(có ý kiến cho rằng, Hầu là chi Thân Thủy là can Nhâm chỉ Nhâm Thân.)

101.二百年來衰氣運。 101 nhị bách niên lai suy khí vận.
102.任君保重成何濟。 102 nhiệm quân bảo trọng thành hà tế.
103.水邊田上米郎來。 103 Thủy biên Điền thượng Mễ lang lai.
104.直入長安加整頓。 104 trực nhập Trường An gia chỉnh đốn.
105.行仁行義立乾坤。 105 hành nhân hành nghĩa lập Càn Khôn.
106.子子孫孫三十世。 106 tử tử tôn tôn tam thập thế.
Tạm dịch và chú thích:
200 năm tới khí vận suy
Dặn anh giữ gìn, nên làm thế nào để vượt qua được
Trên ruộng bên cạnh nước, chàng gạo tới
Vào thẳng Trường An, sắp xếp lại
Làm việc nhân nghĩa, dựng thể chế
Con con cháu cháu kéo dài 30 “thế”.
(có ý kiến cho rằng, chữ Thủy chữ Điền và chữ Mễ là chữ Phan (Phiên) . Người  Hán đến lúc cuối, tộc người khác sẽ làm chủ Trung Hoa, xây dựng thể chế tốt đẹp. Thế là 30 năm, 30*30=900 năm.)

107.我今只算萬年終。 107 ngã kim chỉ toán vạn niên chung.
108.剝復循環理無窮 108 Bác Phục tuần hoàn lý vô cùng.
109.知音君子詳此數。 109 tri âm quân tử tường thử số.
110.今古存亡一貫通。 110 kim cổ tồn vong nhất quán thông.
Tạm dịch và chú thích:
Ta nay chỉ tính toán vậy thôi, bài ca 10 ngàn năm đến đây là hết
Suy thoái rồi phục hồi, lẽ tuần hoàn không bao giờ có chỗ cuối
Người quân tử biết nhau, sẽ rõ về (lý) số này
Việc còn mất xưa nay có thể biết suốt được.
(quẻ Bác chỉ suy vi, âm trưởng mà dương đến lúc cuối. Quẻ Phục chỉ bắt đầu trở lại, khí nhất dương bắt đầu sinh.)

Trên đây là Càn Khôn Vạn Niên Ca, được cho là của Khương Tử Nha đời Chu làm. Vạn Niên là kể từ khi có tộc người Hán, nên bắt đầu từ Phong Hậu, Nữ Oa.
Càn Khôn Vạn Niên Ca (bản1867)
Bìa
Lời đầu sách
Lời cuối sách

Bản Càn Khôn Vạn Niên Ca
xuất bản năm Dân Quốc 36





















Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

Tàng bản Trình Công sấm ký của một nhà nho họ Nguyễn ở Thái Bình

Trạng nguyên Trình thị sấm ký
1. thung dung mở thấy quyển vàng
chép ghi một bản rõ ràng phân minh
từ ngày Lang đến nước người
xem thấy sấm Trời cao giá thập phân
kể từ nước Lạc Long Quân
đắp đổi xoay vần chí Lục Thất gian
khéo tuần hoàn chẳng sai tơ mảy
thấy quyển vàng xem đọc đã thông
mấy tuần là đã tinh dùng
ngàn vàng chẳng xứng ngàn công chẳng mầu
11. bởi lòng Trời ghín đã âu
ngộ tự dặn bảo trước sau mọi lời
không công sự bởi lòng Trời
suy ra cho thấu sự đời xiết bao
chẳng sai tơ hào cũng vậy
chép để truyền ai nấy xem cho
những câu nhiệm nhặt khôn dò
ai ai lường được trượng phu hơn người
nay xem chữ một nghĩa mười
nói xuôi cũng được ngược lời cũng nên
21. kể từ tuần vận Tiên Hiền
 Tiên Hoàng được thập nhị niên những là
Đại Hành trị vì quốc gia
niên tam thập nhị truyền nhà Lý nay
nhị bách lục thập niên rày
nhà Trần khóa này kế hậu đời trên
nhất bách thất thập ngũ niên
Mạc gia tiếm thiết lên truyền kinh sư
xưa làm Lực Sỹ Đô Du
Trời cho lên trị làm Vua một đời
31. lục thập lục niên ba người
Vua Lê tái trị mọi loài dẹp an
Mạc nay vô đạo chẳng hiền
Trời làm một phút bay lên đến rừng
Lê gia mở vận trung hưng
Trịnh thị phù lập tá chưng trị đời
vạn dân chốn chốn đôi nơi
Đông Tây Nam Bắc hàm lai phục thần
suy xem vậy biết hòa luân
Đinh Lê Lý Trần sấm hãy còn ghi
41. Trịnh Nguyễn cùng đồng nhất chi
lại cướp lấy vì tiền trái báo oan
cho nên Thiên Đạo tuần hoàn
đôi bên quái nước tiếm tan một giờ
sự này còn dấu nẻo xưa
Đông Tây tử trận Bắc thu cung tần
Trịnh thị dầu có muôn dân
ắt là đến tuần khôn chống hổ vay
lòng Trời vận đã đến ngày
để cho Nguyễn nó sau này báo ơn
51. sự sao chẳng biết nguồn cơn
khi tham lại thấy thiệt hơn chẳng nài
Trịnh kia cậy mạnh đua tài
Nguyễn nó vàng mười có kém chi cân
làm chi tẩu tán muôn dân
binh bì thực tận xoay vần suy vi
sự Trời chỉn đã nên bia
bởi lo chẳng thấu mà suy chẳng tường
đời sao lấy Bá làm Vương
Tôi sao khi Chúa đạo thường thủ nay
61. trong kinh luân ắt đã chầy
Gà liền trục Chó có ngày báo ân
Trịnh Vương làm sự bất nhân      
đến ngày mạt tuần phải thấy oan gia
Nguyễn nó cường dũng sự cơ
ơn xưa Tề tử vốn xưa còn truyền
làm chi nên nghiệp Đế Vương
thế học chưa tường sao biết là đâu
Mạc kia dầu có cơ cầu
cải táng bất tái khôn cầu trung hưng
71. đành thay Lê bại Trịnh suy
vận truyền đến kỳ Thánh Chúa Hiền Quân
Trời còn đồ thán sinh dân
đến khóa Mạt Tuần mới tỏ sự cơ
đôi bên quái quỷ chu hư
Thánh Nhân bất chiến trị dư muôn đời
Nguyễn thị lục thập số Trời
ai có vàng mười chưa dễ bán rao
có lời khuyên kẻ Anh Hào
đợi vua Ngiêu Thuấn ngày nào sẽ hay
81. bốn Phật xuất thế đã chầy
chờ tháng chờ ngày cho hợp mới nên
Thánh Nhân ấy đã ra điềm
khuyên ai chưa biết thì xem cho tường
hữu xạ thời tự nhiên hương
có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
nắng lâu ắt có mưa rào
bụi trần gió phảy xôn xao cày bừa
bèo thảo khi đợi khi chờ
giăng buồm đợi gió cày bừa đợi cơn
91. tuần hoàn Tuệ xuất có phương
sự ấy đã tường ắt chẳng hồ nghi
Trịnh Lê đã mãn tư kỳ
tuần này bất chiến vậy thì cũng tan
Trời sai Nguyễn nó hào cường
báo thù ngày trước nghiệp Vương bất thành
ai tu học lấy Chân Kinh
thịnh suy trị loạn xoay vần chẳng thôi
tuần này cơ cẩn luân hồi
Thiên sầu Địa thảm lòng Trời chẳng an
101. Trời sai Vương Quỷ mọc liền
để cho lừng lẫy giang biên khóa này
bời bời đua sức ra tay
người hãy bừa cày ta thử cấy chơi
khuyên người Tứ Trấn đàng ngoài
giữ lấy những lời trong Sấm chẳng sai
kìa ai còn chưa dùng Thư
đợi kỳ Hoa Phù mới biết rằng linh
sự này mãn ý đã đành
khuyên ai tu hành tìm đến Khảm phương
111. nói đâu cho hết tỏ tường
đến ngày mạt thế cường hào ghê thay
sự Tiên thất thác bởi Trời
kim ra lại những chuyện hay bây chừ
gió cuồng đã sớm lại trưa
còn đàn cửu khúc còn thơ chữ đề
kẻ Tần Vương ngu mê chẳng biết
nguồn cơn Dê lại giết Dê
đến khi thực tận binh bì
Âm Binh ở giữa ai thì biết đâu
121. thấy Thành Đô tiếng lo úng úng
cũng lòng Trời chống thế nao
xem ngày mong vững chiêm bao
nào đâu còn thấy ước ao thái bình
một góc thành nhẹm xem chúng Quỷ
muôn Quỷ một lòng ích kỷ hại nhân
bốn phương bụi bụi hồng trần
sáng bừng tỏ lửa lưỡng phân Bĩ tuần
 bán mua những ức dân lấy bạo
âu đôi loài Thỏ, Cáo đua nhau
131. Nhân Nguyên tuần hết đã lâu
bây giờ thiên hạ âu sầu càng ghê
Hùm kia lạc dấu khôn về
Mèo con chi chí tìm về cố hương
chân Dê móng Khỉ leo tường
giữ nhau ai dễ sửa sang một mình
trong thành chốn chốn hư kinh
chân Khỉ leo tường Tín Sứ đã sang
   chốn Thành Đô tắc giang lặng lẽ
trong đôi xuân liên phá Tổ Long
(tức Hà Nội thành)
141. Quốc trung Kinh dụng, Cáo không
trong thành vả lại khiếm hung vũ tàn
Gà kia gáy ở bên tường
chẳng yêu thời cũng bất tường chẳng không
thủy binh cờ sí vầng hồng
bộ binh rầm rập như ong kéo hàng
đấng hiên ngang nào ai có biết
ấy Bắc binh sang việc chi chăng
ai còn khoe trí khoe năng
cấm kia bắt nọ tưng bừng đôi nơi
151. chưa từng thấy đời nào sự lạ
bỗng khiến người giá họa cho dân
muốn bình sao chẳng lấy nhân
muốn an sao chẳng giục dân cấy cày
khác chi thời Hoàn Linh nhà Hán
đúc tiền ra bán tước cho dân
xưng xe những chẳng cậy quân
nào hay Thiên Vận xoay vần chí công
mấy đời cung nặng tay dễ vác
lòng báo thù ai nỡ để cho
161. cát lầm bốn bể can qua
Mạc kia chẳng được lại ra vác về
quần hương binh dấy nước khe
kẻ xưng cứu nước người khoe đắc thời
 xem Đoài phương thời Trời bất tạo
thấy Vỹ Tinh thời tháo cho mau
chớ còn tham tước tham giàu
tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
trẻ con mang lệnh tướng quân
ngỡ uy đã dấy ngỡ nhân đã nhường
171. hãy xem gương U Vương đời trước
đã nghĩa nhân sao chước tiểu nhân
đôi kỳ bọ kiến xu lân
cho nên những kẻ trung thần phải tu
ví Thu đầu núi đỉnh Thu
thừa cơ mới nổi phục thù một cơn
để những quân phục thù thơi thới
lòng Trời xui ai nấy biết cho
phá Điền cuối Khỉ đầu Thu
Ếch kia mới động thập thò liền sang
181.Mão cung vân vụ khác thường
Trong thành khôn xiết hung hoang mịt mù
Lưu Tinh hiện trước đôi Thu
bấy giờ thiên hạ mịt mù cả năm
coi thấy những sương xâm tuyết lạnh
loài Bất Bình tranh mãnh hung hăng
thành ao cá lửa tưng bừng
kẻ ngàn Đông Hải người rừng Bắc Lâm
chiến trường chốn chốn cát lầm
kẻ nằm đầy núi người trầm đầy sông
191.sang thu chin huyết hồng tứ dã
nổi đàn Dê tranh phá càng ghê
đầu Đông đồ thán Sinh Lê
bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
kẻ thời thửa bị hung tàn
kẻ thời bận của những toan khốn mình
Chó nhấm dựng tổ cắn vang
cũng đồ Vương Bá xuất binh thủ thành
bời bời đua mạnh tranh hoành
phá cây đánh đá liên binh tối ngày
201.bể thanh cá phải ẩn cây
đất bằng nổi sóng cát bay bụi mù
nào ai đã dễ biết dù
thủy chiến bộ chiến mặc dầu đôi nơi
cây khô lá úa đôi ngàn
một làng còn mấy chim đàn bay ra
bốn phương cùng có can qua
làm sao cho biết khóa hòa bảo thân
Khảm phương thực có Chân Nhân
quân Tiên khởi nghĩa chẳng phân hại người
211.tìm cho được chốn được nơi
sơn lâm một dải trú nay cho đành
bốn bề núi đá mọc xanh
có đường tiểu bá nương mình để an
Đông Nam nhiều những phen tan tác
lánh cho xa kẻo mắc đao binh
Bắc Kinh định thực Đế thành
đấu mình chưa dễ đấu danh được nào
chim Hồng vỗ cánh bay cao
tìm cho được chốn mới vào Thần cơ
221.ai dễ cứu con thơ sa giếng
đều một lòng tranh chiến đua nhau
vạn dân chịu khổ âu sầu
kể dư nhị ngũ mới hầu cứu cho
cày bừa tu được ngày mùa
bây giờ bỏ ruộng lọ là mặc ai
uy gia đức phủ viễn lai
chẳng phiền dân nhọc chẳng nài dân lương
vì điềm Trời tượng mở đời nay
tự Sâm mọc rày họ Lý tự tiên
231.vốn dòng Y Bát còn truyền
nay xem Tứ Bảo còn in đời đời
Thần Quy mấy Nỏ ở Trời
 để làm Thần Khí thửa nơi trị trường
lại nói sự Hoàng Giang sinh Thánh
dòng Bảo Giang Thiên định ai hay
Lục Thất cho biết khóa này
Phụ Nguyên chỉn thực ở rày Tào Khê
có thày Nhân Thập đi về
tả hữu phù trì đều có binh quân
thi vân
241.nhị thủy tu lai cát nhất khu
cứu vạn dân phi
duy quyền nghi trợ
ức diệc hữu vinh thân
245.tích nhật Đường Lang khởi bổ Thiền
bất tri Hoàng Tước tại thân biên
Hoàng Tước bị Đấu Nhân xạ lạp
Đấu Nhân đáo xứ Hổ Lang khiên
bả xạ Lạp Nhân sa hãm tỉnh
vô tri đáo xứ Hổ tương liên
nan tri nhất mệnh hoàn nhất mệnh
báo ứng phân minh tại nhãn tiền

254.Tuệ Tinh xuất hiện khóa Long Xà
Thần Khí an tồn cửu cửu gia
Hình Ngưu ngộ Mã thiên hạ động
toán lai thiên hạ xất sơn hà

258.Long vĩ Xà đầu khổ chiến tranh
can qua xứ xứ khởi đao binh
Mã đầu Dương túc anh hùng tận
Thân Dậu nguyệt gian kiến thái bình
từ viết
262.Mã Bạch Xỉ là tự 
Vi thủy là danh Mã
Ngọ tuế để đã dành dành
can qua chỉ kiến Giang Đông xuất
tầm đáo Bắc phương xứ ngộ Minh Quân
267.Tý Sửu bần bạc khổ
Dần Mão bị hung ương
Thin Tỵ ly thân thích
Ngọ Mùi quy cố hương
Thân Dậu Minh Quân xuất
Tuất Hợi thái bình ca
Hựu viết
273.dục thức Thánh nhân xứ
xuất ứng Bảo Giang
dục thức Thánh nhân thất,
Bảo Cái thủy trung tàng
dục thức Thánh nhân danh,
Mộc hạ liên Đinh Khẩu
dục thức Thánh nhân nhĩ diện,
thông chước tu tầm chương cú
hựu viết
281.Giang Nam nhị thủy diện
ngôn tại sơn xuất vô hổ lang
thất thập nhị Hiền Tướng
phụ tá Thánh Minh Quân
phá Điền Thiên tử xuất
bất chiến tự nhiên thành
tái viết
287.có phen Đông lại về Đông
Bắc Nam thôi lại bế bồng con sang
người tìm chốn xôn xao
ta lại tìm nơi vắng vẻ
291.nhập Hải Môn đồ
Nhật chấn Thành Đô  
  Thiên cao Địa hiểm
hạ đắc giang hồ
thượng Thiên cửu thốn
dân xã cận vô
Đông Tây Nam Bắc
thôn ngọc trung hồ

299.kể từ Thìn Tỵ mà đi
Rồng thời chết lụt Rắn thời chết khô
301.Tân Lang bán chẳng ai mua
cơm chia từng bát gạo lừa từng thưng
đến năm Dê mọc hai sừng
càng thêm khiết lận bởi gừng chua cay
Quỷ Đông trượng ở vầng cày
ruộng dừ tan tác cỏ cây tơi bời
Quỷ Đông đánh bả tinh trời
Quỷ Đông thất thế đoạn đời Quỷ Đông
Gà kia nằm ở trong lồng
trông xem thấy chủ trong lòng vui thay
311.bốn phương bảng lảng Đông Tây
   chó không tiếng cắn người không rình mò
Lợn kia nằm ở trong lò
bán trăm quan quý chẳng lo điều gì
dầu ai xem xét chẳng ra
vòng trong Thái Tuế mười ba năm tròn
Khỉ lớn cho đến Khỉ con
Nhân Nguyên tuần hết chi còn biết nhau
diệt cường thần Tổ xưng căn
phù Đế thất giành cây kiều mộc
321.đừng khinh Gà choắt trong lồng
có khi Gà choắt ra dòng Kim Kê
Sấm văn hư thực ở người chép để
chẳng biết suy thời nghĩ rằng hư
suy ra cho thấu chẳng điều nào sai
hựu tha bản
nhất sĩ anh hùng tận
song thiên nhật nguyệt vô.



Tạm dịch và chú thích :
Vẫn nghe nói, Sấm Trạng được lưu truyền tới nay có nhiều cách : do con cháu Trạng, do học trò...Trong đó có thuyết nói rằng : khi giặc Pháp bỏ bom làng Cổ Am, quê Trạng Trình, thì có bung ra một quyển Sấm Trạng. Văn bản này được cho rằng, chính là bản phát hiện được khi Pháp đánh bom Cổ Am. Ở bản này, mạch văn thông suốt, lớp lang thứ tự khả năng không bị đảo lộn, thêm bớt. Chúng tôi xin được đăng toàn văn văn bản này.
3. Lang = Pháp, nước Pháp, theo cách gọi theo âm hán việt : Phú Lãng Sa, Phú Lang Sa, Phật Lăng. câu này và câu dưới chỉ sự xuất hiện của bản sấm này.
13. không công sự = không làm nên việc gì, không làm được trò trống gì.
22. thập nhị niên = mười hai năm.
24. niên tam thập nhị = năm ba mươi hai.
25. nhị bách lục thập niên = 260 năm.
27. 175 năm.
31. lục thập lục niên = 66 năm.
36. họ Trịnh dựng lại nhà Lê, thực ra họ Lê chẳng làm trò trống gì.
38. khắp nơi nổi dậy chống lại họ Trịnh với chiêu bài phù Lê.
46. Quang Trung lấy Ngọc Hân.
62. Năm Nhâm Tuất 1802.
66. chưa hiểu được nghĩa chữ Tề (nước Tề). có thể là chữ Tế (con rể) do chép nhầm.
77. lục thập = 60. nhà Nguyễn được 60 năm, từ khi Pháp vào thì chỉ là bù nhìn mà thôi. vả lại có nghi án trong lịch sử, Tự Đức chưa chắc đã phải là con Thiệu Trị. vụ việc tráo con của ông đồng hao Trương Đăng Quế, việc dùng vũ lực để đưa Tự Đức lên ngôi...cũng như khi Bảo Đại ra đời, trong dân có câu "thái hậu hoang thai đã đẻ rồi, giống Tây như lột ối giời ôi", thực tế Khải Định không có khả năng sinh lý. ở đây có ý kiến cho rằng nhà Nguyễn không những bù nhìn mà còn thất thống.
79.80. nói thêm về việc nhà Nguyễn không phải là chân chúa. bậc anh hào phải xem xét.
81. có bản chép "bốn Bụt" cũng tương tự.
89. có bản chép "qua cơn khi đợi khi chờ". chúng tôi theo nguyên bản, thấy cũng có nghĩa, "bèo thảo" chỉ dân đen.
96. việc làm của nhà Nguyễn sau khi có chính quyền là không hợp lòng người. trả thù Quang Trung đê hèn, đào mộ, đánh thây, cho vào đại bác bắn...những người có học và am hiểu ở Bắc Hà không chấp nhận được, phần nhiều không ra làm quan. sự phân biệt các vùng miền cũng bắt đầu do nhà Nguyễn, phân biệt đàng trong đàng ngoài, không tin người đàng ngoài. bắt người đàng ngoài phải theo cung cách đàng trong, gây ra nhiều cảnh cười ra nước mắt "tháng tám có lệnh vua ra, cấm quần không đáy người ta hãi hùng, không đi thì chợ không đông, mà đi thì cướp quần chồng sao đang", chuyện cấm gái góa không được tái giá còn dấu vết trong hề chèo "cu sứt"....nhà Nguyễn nhiều võ mà ít văn, tự ty về học thuật, khi xem văn sách của thí sinh Bắc Hà nhiều chữ không đọc được, ra quy chế dùng chữ trong Khang Hy Tự Điển. trong khi đó KHTĐ không phải là toàn bị. tình trạng này kéo dài ở miền trong, trong nhiều văn bản chữ Hán Nôm, có nhiều chữ các học giả không đọc được hoặc đọc nhầm.
105. Tứ Trấn = Tứ Chí = Kinh Bắc + xứ Đông + xứ Đoài + Sơn Nam. đây là chỉ đồng bằng trung du Bắc Bộ, trừ Kinh Thành ra.
113. những cái gọi là phép Tiên bị mất đi (thất), bị sai đi (thác) là do vận Trời.
114. nên nay nảy sinh muôn trò bịp bợm, hòng nhiều lợi ích đê hèn dưới chiêu bài tín ngưỡng, tâm linh...
119. thực tận = hết thứ để ăn. binh bì = lính tráng mệt mỏi.
121. ở Kinh Thành (Thủ Đô) mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ.
128. lưỡng phân = chia hai. Bĩ tuần = lúc khốn khó bế tắc.
129. mua bán với dân chúng bằng cách ức hiếp tàn bạo.
131. Nhân Nguyên : một nguyên trong ba nguyên, theo thuyết Tam Nguyên, gồm Thiên, Địa, Nhân.
135. Dê = Mùi, Khỉ = Thân
137. lại nhắc lại ý câu 121, trong các thành phố mà rỗng không (hư), lo sợ (kinh).
138. Khỉ = Thân, Tín Sứ = sứ giả đưa tin. có ý kiến cho là ứng với việc khởi động hòa đàm Pa-ri.
139. có người cho rằng ứng với việc đi sơ tán (tản cư)
140. có người cho rằng ứng với việc Mỹ bỏ bom Hà Nội.
152. tất cả là sai ở dân, mà chịu tội cũng là dân !
165. có ý cho rằng đây là thoát ý câu "Đoài cung ẩn tinh".
171. U Vương = Chu U Vương, một hôn quân, đam mê sắc dục, làm nhiều trò bại nhân luân. đánh mất lòng tin của thiên hạ và chết vì nó (chư hầu không đến cứu).
180. chữ Ếch nôm, chữ Trùng + chữ Ích, chữ Ải gồm chữ Phụ + chữ Ích.
183. Lưu Tinh = sao chổi.
201. bể thanh = biển trong.
206. chỉ việc im ắng, vắng người.
210. Tiên = thần tiên.
227. oai và đức bao trùm đến cả vùng xa xôi.
228. không kêu gọi hoặc bắt dân đóng góp sức người sức của.
230. Sâm = sao Sâm, một trong Nhị Thập Bát Tú.
231. Y Bát = truyền thừa có gốc gác bằng chứng.
233. theo truyện Thần Kim Quy và Nỏ Thần.
   thơ rằng
241. hai dòng nước chảy lại một khu đất tốt đẹp.
242. cứu muôn dân không.
243. chỉ có quyền nên giúp.
244. ép rằng có vinh thân.
245. ngày trước Bọ Ngựa bắt Ve Sầu
246. chẳng hay Sẻ Vàng ở cạnh mình
247. Sẻ Vàng bị thợ săn bắn bắt
248. thợ săn đến chỗ Hổ Sói vây
249. bất chợt thợ săn rơi xuống giếng
250. không biết đến chỗ Hổ ngay bên
251. khó biết đều là mệnh số cả
252. báo ứng rõ ràng ở trước mắt.
254. Sao Chổi hiện ra ở thuở Rồng Rắn
255. Thần Khí giữ yên ở chín chín (81) nhà. 
256. Trâu bị thương gặp Ngựa, thiên hạ bắt đầu rục rịch.
257. tính ra rằng lúc ấy thiên hạ mới lộ ra núi sông (quốc gia).
258. đuôi Rồng đầu Rắn khổ vì chiến tranh.
259. chiến trận dấy lên ở khắp nơi.
260. đầu Ngựa chân Dê anh hùng đến lúc cuối.
261. đến năm Thân, Dậu thì nom thấy thái bình. (mới nom thấy chứ chưa thái bình).
262. Mã (ngựa) Bạch Xỉ là chùa.
263. sông Vi là danh Mã.
264. Ngọ tuế = tuổi Ngọ.
265. chiến tranh chỉ thấy ở Giang Đông ra.
266. tìm đến phương Bắc gặp Vua sáng.
267. năm Tý Sửu nghèo khổ, đói rách.
268. năm Dần Mão bị tai nạn xấu.
269. năm Thìn Tỵ rời người thân.
270. năm Ngọ Mùi về quê cũ.
271. năm Thân Dậu Vua sáng đã ra.
272. năm Tuất Hợi hát vang thái bình.
từ câu 267-272 có ý kiến cho là hành trạng của Minh Quân.
lại nói
273. muốn biết chỗ Thánh Nhân.
274. ra đời ứng với Bảo Giang.
275. muốn biết nhà Thánh Nhân.
276. Lọng Quý ở trong nước.
277. muốn biết tên Thánh Nhân.
278. dưới chữ Mộc liền chữ Đinh chữ Khẩu.
279. muốn biết mặt mũi Thánh Nhân.
280. nên châm chước trong các câu các đoạn.
lại nói :
281. Giang Nam hai mặt là nước (sông).
282. nói là tại nơi ra, rừng núi không có hổ, sói.
283. 72 hiền tướng.
284. giúp Vua Thánh.
285. Phá Điền Vua sẽ ra.
286. chẳng đánh mà cũng nên (việc).
291. vào đồ hình Hải Môn (cửa biển).
292. Mặt Trời giữ Thành Đô.
293. núi cao, đất hiểm.
294. dưới được sông, hồ.
295. lên Trời (có) chín tấc (gần lắm).
296. gần đấy chẳng có dân cư gì.
297. bốn hướng Đông Tây Nam Bắc.
298. trong hồ nước nuốt hòn ngọc.
301. Tân Lang = trầu cau
312. im ắng, vắng lặng.
316. Thái Tuế = sao Mộc, chu kỳ gần 12 năm. trong các thuật số, dùng ảnh của sao Mộc. sao Mộc đi ngược mà Thái Tuế xuôi. lịch năm cũng gọi là Thái Tuế. Vị Thần cai quản trong năm cũng gọi là Thái Tuế. còn gọi là Tuế Quân. ở đây liên quan đến thuật Thái Ất.
-có một bản khác thêm câu :
326. Nhất Sĩ anh hùng đến lúc cuối. có ý kiến cho rằng Nhất Sĩ = chữ Nhâm.
327. Song Thiên không có mặt trăng mặt trời. có ý kiến cho rằng Song Thiên = chữ Quý.