Kim Lăng tháp tàng bi
Lưu Bá Ôn
金陵塔藏碑
Kim Lăng tháp tàng bi
Sách khứ Kim Lăng tháp, quan môn
tự kỷ sát; Nhật xuất Đông, Nguyệt lạc Tây. (án tức Nhật Bản phát động xâm Hoa)
Tạm dịch
Đập bỏ tháp Kim Lăng, cửa quan
mình tự giết mình; Mặt Trời mọc ở đằng Đông, Mặt Trăng lặn ở đằng Tây. (theo đó
là Nhật Bản phát động xâm lược Trung Hoa)
Hồ nhi cố hương khởi phong yên.
(Cửu Nhất Bát Thẩm Dương sự biến, Hồ nhi chỉ Mãn)
Tạm dịch
Quê cũ của người Hồ bùng lửa
khói. (sự biến Thẩm Dương ngày 18 tháng 9 năm 1931 , Hồ nhi là chỉ Mãn)
草弓何優柔目覩江山(一作河)落夷手(時國內未靖戰力相差遠甚蒋委員長忍辱負重故意懷柔張長官亦以無法抵抗退入關內草弓指蒋張二姓)
Thảo Cung hà ưu nhu, mục đổ giang
sơn (nhất tác hà) lạc di thủ. (thời quốc nội vị tĩnh, chiến lực tương sai viễn
thậm, Tưởng ủy viên trưởng nhẫn nhục phụ trọng, cố ý hoài nhu; Trương trưởng
quan diệc dĩ vô pháp để kháng, thoái nhập quan nội. Thảo Cung chỉ Tưởng Trương
nhị tính)
Tạm dịch
Cung Cỏ sao mềm yếu, mắt nhìn non
sông rơi vào tay người Di. (chữ “sơn” có bản chép là “hà”) (Trong nước chưa
yên, sức chiến đấu khác nhau rất xa, Ủy viên trưởng họ Tưởng nhẫn nhục gánh vác
trọng trách, lại có ý yếu mềm; Trưởng quan họ Trương không có cách nào chống lại,
lùi vào nội địa. Thảo Cung là chỉ hai họ Tưởng và Trương.)
[Chữ Tưởng 蒋 có Thảo 艹 đầu, chữ
Trương 張 có chữ Cung 弓 . Tưởng là Tưởng Trung Chính 蔣中正,
Trương là Trương Phát Khuê 張發奎.]
Đông tận Giang Nam vạn cổ sầu (nhất
tác ưu), phồn hoa hốt biến ngõa thước khâu. (Nhập nhất niên nhất nhị bát Hộ chiến
chi hậu, phản Nhật không khí nhật xu phồn trương. Kế chi dĩ Tây An sự biến, trí
Nhật Bản xâm Hoa chính sách ích hình tích cực, đãi thất thất Lư Câu Kiều cập
bát nhất tam Thượng Hải chiến sự phát sinh, Quốc phủ nãi minh lệnh kháng chiến.
Thị niên đông mạt, Kim Lăng, Tô, Hàng đẳng địa tương kế du hãm, địch nhật đáo xứ
thiêu sát, Giang Nam thủ thiện chi khu tận thành khâu hư)
Tạm dịch
Hết mùa đông, Giang Nam buồn muôn
đời; đông vui đẹp đẽ chợt trở thành đống ngói vụn. (chữ “sầu” có bản chép là chữ
“ưu”) (ngày 28 tháng 1 năm Dân Quốc thứ 21, 1932, sau chiến sự Thượng Hải,
không khí chống Nhật ngày một dâng cao. Tiếp theo là Tây An sự biến, đến chính
sách xâm lược Trung Hoa của Nhật bản được đẩy mạnh, đến sự kiện Lư Câu Kiều ngày
7-7-1937 và trận chiến Thượng Hải ngày 13-8-1937, Chính phủ Quốc Dân đảng mới
ban lệnh kháng chiến rõ ràng. Cuối mùa đông năm ấy, 1937, các địa phương Kim
Lăng, Giang Tô, Hàng Châu bị phá, ngày quân địch đến nơi đốt giết, khu vực đứng
đầu của Giang Nam thành đống gạch vụn.)
Hồi thiên Nhất Nhị Cửu dẫn khởi,
Bạch Nhật kết thâm cừu. (tam thập niên thập nhị nguyệt bát nhật, Mỹ lĩnh Trân
Châu cảng bị tập dực nhật, tức đối Nhật tuyên chiến. Bạch Nhật giả, cái bạch chủng
nhân dữ Nhật nhân chi vị.)
Tạm dịch
Quay về Trời, Một, Hai, Chín bắt
đầu dấy lên, Mặt Trời Trắng kết mối thù sâu. (ngày 8 tháng 12 Dân Quốc năm thứ
30, 1941, là ngày Trân Châu cảng do Mỹ quản
lý bị tấn công bất ngờ, Mỹ bèn tuyên chiến với Nhật. Người Bạch Nhật, là
cách người da trắng gọi người Nhật.)
[1+2+9=12 chỉ tháng 12; 1+29=30
chỉ Dân Quốc năm thứ 30. Theo chú của Chu Tiếu Cầm là ngày 8-12-1941, đấy là
theo giờ Nhật Bản, theo giờ Hawaii là từ sáng sớm đến trưa ngày 7-12-1941 ]
眼見日西休(日寇入境我國民正府遷都重慶敵蹤所至中原達十五行省飛機轟炸遍及全國雖抱抗戰到底之决心然太平洋戰起實爲一大轉捩點终使日人敗降)
Nhãn kiến Nhật hưu tây (Nhật khấu nhập cảnh, ngã Quốc Dân chính phủ thiên đô Trùng Khánh. Địch tung sở chí trung nguyên đạt thập ngũ hàng tỉnh, phi cơ oanh tạc biến cập toàn quốc. Tuy bão kháng chiến đáo để chi quyết tâm, nhiên Thái Bình Dương chiến khởi, thực vi nhất đại chuyển liệt điểm, chung sử Nhật nhân bại hàng.)
Tạm dịch
Mắt nhìn thấy Mặt Trời lặn về đằng tây. (Giặc Nhật vào cướp phá, Quốc Dân chính phủ của ta dời đô đến Trùng Khánh. Dấu chân giặc in dấu 15 tỉnh ở trung nguyên, máy bay ném bom khắp nơi trong cả nước. Tuy mang quyết tâm kháng chiến đến cùng, nhưng chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, đấy mới thực sự là điểm bản lề dẫn đến thay đổi lớn, cuối cùng làm cho Nhật phải chịu thua.)
Phiên âm
Hữu văn, ư Dân Quốc thập thất niên chí nhị thập niên gian, biến truyền các địa. Vị hệ thập lục niên Đinh Mão, Quốc Dân chính phủ điện đô Nam Kinh. Sách trừ Minh kiến Kim Lăng tháp dĩ tịch Trung Sơn đại đạo. Kiến hạ hữu thuyên tự thạch, trung đa ẩn ngữ thù nan sách giải. Nãi Minh Thành Ý bá Lưu Cơ sở trí .. v. v .. Chí kim kháng chiến thắng lợi, hà sơn quang phục. Ngẫu độc cựu văn, án chư nhị thập lai niên sử, thực cánh nhất nhất tương phù. Thiên nhân tạo hóa Thánh Hiền sở cứu. Ngô nhân đích phùng kỳ hội, đắc chứng kỳ phi vọng. Ninh phi khoái sự, phong vũ vô liêu, vi gia án ngữ, dữ đồng hiếu giả, đa nhất đàm trợ hà như. Bính Tuất thu nhật, Hải Ninh, Chu Tiếu Cầm thị chí.
Tạm dịch
Bản văn này, ở trong khoảng từ Dân Quốc năm 17 đến năm 20, lan truyền các nơi. Nói rằng Dân Quốc thứ 16 năm Đinh Mão, Chính phủ Quốc Dân lấy Nam Kinh làm thủ đô. Dỡ bỏ tòa tháp Kim Lăng làm từ thời Minh, để mở con đường lớn Trung Sơn. Thấy ở dưới tháp có tảng đá khắc chữ, trong đó là các câu đố khó giải, vốn do Thành Ý bá Lưu Cơ đời Minh đặt ở đấy .. v .. v .. Đến nay kháng chiến thắng lợi, đất nước trở lại sáng sủa. Chợt đọc văn xưa, theo như các việc xảy ra trong 20 năm trở lại đây, thực là đều ăn khớp. Thiên nhân tạo hóa các bậc Thánh hiền đã xem xét. Tôi là người sống trong lúc ấy, được chứng thực không phải xằng bậy. Nay nhân lúc nhàn rỗi, làm thêm lời thuyết minh các sự việc, cùng với người ưa thích bộ môn này, giúp thêm ít nhiều lời bàn xem sao!
Ngày mùa Thu năm Bính Tuất, 1946, người ở Hải Ninh, là Chu Tiếu Cầm ghi chép.
Trong ngoặc đơn là chú giải của Chu Tiếu Cầm, trong móc vuông là chúng tôi tạm chú thích.]